Bài viết này sẽ giới thiệu về CVE, nguyên lý hoạt động của CVE, và đâu là các tiêu chí để đánh giá 1 CVE là đủ điều kiện. Click để xem nhé!
CVE là cụm từ viết tắt của Common Vulnerabilities and Exposures, tạm dịch là Những lỗ hổng và rủi ro thường thấy. Đây là chương trình được tạo ra bởi MITRE vào năm 1999, với mục tiêu là nhận dạng và phân loại các lỗ hổng thường thấy có trên cả phần cứng lẫn phần mềm của máy tính.
Cơ sở dữ liệu của CVE được xây dựng từ lỗ hổng liên quan đến các vụ tấn công an ninh như đọc dữ liệu của người dùng (mã thẻ ngân hàng, địa chỉ, điện thoại), chiếm quyền điều khiển hệ thống mục tiêu,...

Mỗi dữ liệu được lưu trên cơ sở dữ liệu của CVE sẽ được gắn với một CVE ID nhất định. Các thông tin truy xuất từ CVE ID thì khá ngắn gọn, và cũng không chứa thông tin về kỹ thuật, hay là rủi ro về kỹ thuật cho người dùng biết.
Tuy nhiên, CVE ID có cung cấp đường dẫn đến các cơ sở dữ liệu khác đáng tin cậy có chứa đầy đủ thông tin. Vậy có thể hiểu cơ sở CVE như là người trung gian thực hiện nhiệm vụ sắp xếp và kiểm duyệt thông tin cho người dùng.

- Lỗ hổng có thể sửa được một cách độc lập
Lỗ hổng này có thể khắc phục được mà không ảnh hưởng đến hệ thống chung, và cũng không ảnh hưởng hay gây ra các lỗi khác trên hệ thống phần mềm và phần cứng.

- Lỗ hổng này đã gây ra hậu quả
Lỗ hổng phải gây ra một hậu quả về mặt an ninh cụ thể hệ thống máy tính ở thực tế, và phải có sự chứng thực của cá nhân, tổ chức bị tác động, hoặc qua văn bản được xác nhận.

- Lỗ hổng chỉ tác động lên một sản phẩm
Lỗ hổng này chỉ được phép tác động lên một sản phẩm nhất định, và nếu nó tác động lên nhiều sản phẩm khác nhau thì chúng cần được tách ra riêng lẻ với mỗi CVE ID khác nhau.

Vừa rồi là những thông tin về CVE mà có thể bạn chưa biết. Hy vọng bài viết hữu ích với bạn, cảm ơn bạn đã theo dõi, hẹn gặp lại trong những bài viết khác!