
Được ra mắt vào tháng 3 năm 1994, các bo mạch chủ chạy Socket 5 được thiết kế cho bộ vi xử lý Intel Pentium P5 thế hệ thứ hai, nhưng điều đặc biệt ở đây là người dùng cũng có thể lắp lên những bo mạch chủ này các CPU AMD K5 nếu cảm thấy thích.
Đến mùa hè năm 1995, Intel lại cho ra mắt phiên bản kế nhiệm Socket 7, tương tự như Socket 5, nó hỗ trợ bộ vi xử lý Intel Pentium P5 cũng như các CPU cùng thời do AMD sản xuất. Bo mạch chủ Socket 7 tương thích ngược với các CPU Socket 5 trước đó thông qua một bộ Adapter. Sự khác biệt chính giữa thế hệ này là Socket 7 có thêm một chân cho điện áp nữa so với chỉ một chân trên Socket 5. Đây cũng là lần đầu Intel cho ra mắt một tập lệnh mở rộng tích hợp hoàn toàn mới gọi là MMX để hỗ trợ khả năng chạy các file nhạc, video phục vụ nhu cầu giải trí của người dùng.
Super Socket 7 mãi đến năm 1998 mới xuất hiện dựa trên một vài cải tiến nhỏ và đóng vai trò như một sự cứu cánh cho AMD, giúp công ty có thêm thời gian phát triển socket của riêng mình (gọi là Slot A) sau khi bị thu hồi giấy phép sử dụng chung socket với Intel, vốn đã phát triển lên một socket mới mang tên Slot 1 vào năm 1997 nhằm tách biệt hoàn toàn với đối thủ AMD.
Tuy vậy sự hợp tác giữa hai công ty tưởng chừng như là kẻ thù không đội trời chung này vẫn còn tiếp diễn ở nhiều dự án cho đến tận ngày nay, ví dụ tiêu biểu và gần gũi nhất mà bạn có thể tìm thấy chính là những CPU Intel dòng G với nhân đồ họa tích hợp là Radeon RX Vega M GH, hiện vẫn đang được bán trên thị trường dưới dạng những chiếc PC NUC nhỏ gọn.